Author Topic: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.  (Read 22442 times)

0 Members và 1 Khách đang xem chủ đề.

Offline nguoiyeunhac

  • Người Mới
  • *
  • Posts: 8
  • Bầu Chọn: +1/-0
    • View Profile
Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« on: 27 Tháng Ba, 2008, 05:20:54 PM »
Nói tới công chúa đời Trần người ta thường liên tưởng ngay đến Huyền Trân công chúa do Thượng hoàng Nhân Tôn trong một chuyến đi thăm Chiêm Thành đã hứa gả cho quốc vương Chế Mân để kết mối giao hảo giữa hai nước; thứ nữa, người ta nghĩ đến An Tư công chúa gả cho Thoát Hoan để mong hoà giải với quân Nguyên; nàng công chúa thứ ba đời Trần còn được nhắc nhở tới là Thiên Ninh công chúa vì có dính liếu tới một vụ loạn dâm với em ruột.
Trong Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thì Sĩ đã chê trách nhà Trần về hai điểm :

- Phải dùng " mỹ nhân kế " để giữ nước

- Loạn luân.

Nhưng công bình mà nhận xét thì ở nước ta " loạn luân " và dùng " mỹ nhân kế " để giữ nước không phải chỉ xảy ra ở đời Trần.

I.- Mỹ nhân kế
Dù ở Âu hay Á, xưa hay nay, thì phụ nữ vẫn thường được dùng làm " vật hi sinh " trên bàn thờ tổ quốc. Riêng đời Trần không phải chỉ Huyền Trân hay An Tư công chúa mới được đem ra làm vật đổi chác. Theo thứ tự ta phải kể :

1) Năm 1228, gả Ngoạn Thiềm công chúa - em vua Thánh Tôn, con Thái Tôn - cho Nguyễn Nộn. Nộn là cư sĩ chùa Phù Đổng, vì bắt được vàng ngọc không dâng lên triều đình nên vua hạ chiếu bắt giam. Tự Khánh, anh thứ hai của Linh Từ quốc mẫu - mẹ Lý Chiêu Hoàng - xin cho Nộn được đánh giặc chuộc tội, vua sai đi đánh dẹp người Mán ở Quảng Oai. Nộn chiếm cứ vùng Bắc Giang, Đoàn Thượng chiếm vùng châu Hồng (Hải Dương). Nộn giết Đoàn Thượng, chiếm quân và cướp của châu Hồng, thanh thế lừng lẫy. Thủ Độ lo lắng, một mặt sắc phong cho Nộn làm Hoài đạo Hiếu vũ vương, một mặt gả Ngoạn Thiềm cho để ngầm dò la tin tức. Nộn biết ý, dọn cho công chúa ở riêng một nơi nên công chúa không làm gì được cả.

2) Năm 1286, tướng Nguyên là Ô Mã Nhi đánh rất gấp, quân ta tan vỡ, bọn Trần Kiện, Lê Tắc(1) đem cả nhà đầu hàng quân Nguyên. Triều đình phải sai người đưa công chúa An Tư - em gái út của Thánh Tôn - đến cho Thoát Hoan để xoa dịu.

3) Chế Mân, dựa vào lời hứa của Thượng hoàng Nhân Tôn, dâng kỳ hương cùng báu vật xin cưới Huyền Trân. Triều đình chỉ có hai người bàn nên gả là Trần Khắc Chung và Văn Đạo Tái, con Trần Quang Khải. Sau Chế Mân dâng thêm hai châu Ô, Lý, vua Anh Tôn mới quyết định. Tháng 6 năm 1306, vua Anh Tôn gả em gái là Huyền Trân cho Chế Mân. Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành thì Hoàng Hậu phải lên dàn hỏa thiêu chết theo. Tháng 10, vua sai Trần Khắc Chung sang điếu tang và tìm cách đem Huyền Trân cùng Thế tử Đa Gia, con Chế Mân, về. Sử chép trên đường về Trần Khắc Chung và công chúa Huyền Trân tư thông với nhau loanh quanh mãi trên biển đến tận tháng 8 năm 1308 mới cập bến(2).

4) Năm 1363, Minh Tôn gả Nguyệt Sơn công chúa cho Ngô Dẫn vì Dẫn có viên ngọc rất lớn, bán được nhiều tiền, trở nên giầu có. Dẫn cậy giầu, tư thông với người khác, khinh khi công chúa. Công chúa tâu lên, Dẫn được miễn tội chết nhưng gia sản bị tịch thu.

Ngô Thì Sĩ viết : " Nhà Trần quen làm lối này, cốt được lợi trông thấy, đem má phấn đánh đổi lấy tràng thành, gả Ngoạm Thiềm cho Nguyễn Nộn, An Tư cho Thoát Hoan đều lối ấy cả " (3).

Ngô Sĩ Liên cũng chê trách : " Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi mệnh có khó gì mà đem gả cho người xa, không phải giống nòi, cho đúng lời hẹn trước rồi sau dùng mưu gian trá cướp lại thế thì tín ở đâu(4) ? " . Phê bình như thế e có hơi khe khắt. Trước hết, khi gả Huyền Trân, vua Anh Tôn không thể biết trước năm sau Chế Mân sẽ chết, việc dùng mưu đón Huyền Trân về để tránh cho công chúa khỏi bị hỏa thiêu không thể coi là " gian trá " đánh lừa lấy được thành rồi thì cướp người về như một vài người đã trách cứ. Còn " đổi mệnh " không gả, theo lời bàn của Ngô Sĩ Liên, thì cũng không phải là thủ tín.

Chẳng qua các sử gia ghét nhà Trần về tội loạn luân nên thấy cái gì nhà Trần làm cũng đáng chê trách. Ở nước ta, dùng " mỹ nhân kế " nào phải chỉ nhà Trần ? Sử chép rõ ràng về nhà Lý :

1) Năm 1029, gả Bình Dương công chúa cho châu mục lang là Thân Thiệu Thái.

2) Năm 1036, Lý Thái Tôn, sợ khó khống chế các tù trưởng quản lĩnh các châu miền thượng du, kết mối giao hảo bằng hôn nhân, gả công chúa Kim Thành cho châu mục Phong Châu là Lê Tông Thuận, gả công chúa Trường Ninh cho châu mục Thượng Oai là Hà Thiên Lãm.

   3. Năm 1082, gả Khâm Thánh công chúa cho châu mục Vị Long là Hà Di Khánh.
   4. Năm 1126, đem Diên Bình công chúa gả cho Dương Tự Minh là thủ lĩnh phủ Phú Lương.
   5. Năm 1144, lại gả công chúa Thiều Dung cho Dương Tự Minh lúc này cai quản các khe động dọc theo biên giới đường bộ và phong Minh làm Phò mã lang.

Thế là một mình Dương Tự Minh được cưới tới hai nàng công chúa và nhà Lý đã dùng tới 5 công chúa làm " vật hi sinh " , nhà Trần 4. Sử nhà Lê tuy không ghi chép tỉ mỉ về các công chúa như nhà Trần, nhưng cũng cho biết năm 1706 đem người tông nữ, lấy danh nghĩa quận chúa gả cho tù trưởng Triều Phúc người Ai Lao. Ngô Thì Sĩ đã viết sử lẽ nào không biết những chuyện này ?
« Last Edit: 27 Tháng Ba, 2008, 05:22:33 PM by nguoiyeunhac »

Offline nguoiyeunhac

  • Người Mới
  • *
  • Posts: 8
  • Bầu Chọn: +1/-0
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #1 on: 27 Tháng Ba, 2008, 05:21:34 PM »
II.- Loạn luân
Quả thật đời Trần người trong họ lấy lẫn nhau rất nhiều. Sử chép :

1) Trần Liễu, anh Thái Tôn, con Thượng hoàng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công chúa, con vua Lý Huệ Tôn và Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa, Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.

2) Năm 1225, Trần Cảnh, tức Thái Tôn, lấy Chiêu Hoàng, em Thuận Thiên.

3) Sau khi Lý Huệ Tôn chết, giáng Huệ hậu làm Thiên Cực công chúa, gả cho Thủ Độ tức là chị em họ lấy nhau. Hai người vốn đã có tư tình với nhau từ trước.

4) Năm 1237, vì Chiêu Hoàng không có con, Thủ Độ ép Thái Tôn lấy Thuận Thiên, lúc ấy đã có mang ba tháng với Trần Liễu. Trường hợp này vừa là con cô con cậu lấy nhau, vừa là em chồng lấy chị dâu.

5) Vua Thái Tôn hứa gả em gái là Trưởng công chúa Thiên Thành(5) cho Trung Thành vương(6) và đã cho Thiên Thành tới ở nhà Nhân Đạo vương, là cha đẻ ra Trung Thành vương, để chờ ngày cưới.

6) Năm 1251, Hưng Đạo vương muốn lấy Thiên Thành, đang đêm lẻn vào phòng Thiên Thành thông dâm. Thụy Bà Trưởng công chúa, chị Thái Tôn và Thiên Thành, mẹ nuôi Hưng Đạo vương, đang đêm gõ cửa cung nói dối là Hưng Đạo vương đã bị Nhân Đạo vương bắt giam, xin vua cứu giúp. Sự thật, khi vua sai người tới thì Hưng Đạo vương còn trong phòng Thiên Thành và lúc ấy Nhân Đạo vương mới biết. Hôm sau Thụy Bà phải dâng mười mâm vàng sống xin cưới Thiên Thành cho Hưng Đạo. Vua bất đắc dĩ phải gả và bồi thường cho Trung Thàng vương. Như vậy Thiên Thành có họ với Trung Thành vương, lại là cô ruột Hưng Đạo, vì Hưng Đạo là con Trần Liễu, anh ruột Thiên Thành.

7) Năm 1258, Thánh Tôn lấy Thiên Cảm là con Trần Liễu, tức là con chú con bác lấy nhau.

8) Thụy Bảo công chúa, con vua Thái Tôn, lấy Uy Văn vương Toại.

9) Gả công chúa tên Thúy, con Thái Tôn cho Thượng vị Văn Hưng hầu(7).

10) Thiên Thụy công chúa, con vua Thánh Tôn và Thiên Cảm, tức cháu nội Thái Tôn và cháu ngoại Trần Liễu, lấy Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn, là con Hưng Đạo, cháu nội Trần Liễu, vừa là con cô con cậu (Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác lấy nhau.

11) Thiên Thụy lại tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là tôn thất nhà Trần, nhờ có công đánh quân Nguyên được Thượng hoàng Thánh Tôn nhận làm con nuôi.

12 & 13) Năm 1274, Nhân Tôn, con Thánh Tôn, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là con Hưng Đạo vương. Trường hợp này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.

14) Anh Tôn, con Nhân Tôn, cháu Thánh Tôn, chắt Thái Tôn, lấy Văn Đức phu nhân năm 1292, là con Hưng Ngượng vương Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo, chắt Trần Liễu. Thế là cháu cô cháu cậu (Hưng Đạo và Thiên Cảm là con Trần Liễu) hay chắt chú chắt bác lấy nhau.

15) Sau Anh Tôn lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh Tư.

16) Anh Tôn lấy Huy Tư là con Thụy Bảo công chúa và Trần Bình Trọng. Thụy Bảo là em Thánh Tôn, Anh Tôn là cháu nội Thánh Tôn, tức cháu lấy cô.

17) Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tôn, Anh Tôn là con Nhân Tôn, cháu Thánh Tôn, lấy Uy Túc công Văn Bích, cháu nội Trần Quang Khải. Quang Khải và Thánh Tôn là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy nhau.

18) Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.

19) Thượng Trân công chúa, em Anh Tôn, chắt Thái Tôn lấy Văn Huệ công Quang Triều, con Quốc Tảng, cháu Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú chắt bác lấy nhau.

20) Minh Tôn, con Anh Tôn, cháu Nhân Tôn, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh, con gái lớn Huệ Vũ vương Quốc Chẩn / Trẩn. Trẩn là em Anh Tôn : Con chú con bác lấy nhau.

21) Minh Tôn gả Huy Chân, con Nhân Tôn, cho Uy Giản hầu năm 1317.

22) Mẹ Huy Chân là Trần Thị Thái Bình, cung tần của Thượng hoàng Anh Tôn.

23) Năm 1318 Minh Tôn gả Thiên Chân Trưởng công chúa cho Huệ Chính vương.

24) Năm 1337 Hiến Tôn, con Minh Tôn, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc vương Đại Niên.

25) Năm 1342, Thiên Ninh công chúa, con Minh Tôn, lấy Hưng/Chính Túc vương Kham.

26) Năm 1349, Dụ Tôn, con Minh Tôn, lấy con gái thứ tư Huệ Túc vương là YÙ Từ Nghi Thánh.

27) Năm 1351 (Dụ Tôn khi đó mới 16 tuổi), Dụ Tôn loạn dâm với Thiên Ninh là chị ruột. Nguyên năm 1339 Dụ Tôn bị chết đuối ở Hồ Tây, được thầy thuốc Tầu Trâu Canh dùng kim châm cứu khỏi nhưng đoán sau này lớn lên sẽ bị liệt dương. Sau quả nhiên sự việc xảy ra đúng như vậy, Trâu Canh được vời đến chữa, khuyên vua giết một đứa con trai nhỏ tuổi lấy mật hoà với thuốc dương khởi thạch mà uống rồi thông dâm với chị hay em ruột. Vua nghe theo, thông dâm với Thiên Ninh công chúa.

28) Huy Ninh công chúa, con Minh Tôn, lấy Tôn thất Nhân Vinh. Sau Nhân Vinh bị Nhật Lễ giết, Nghệ Tôn là anh, lại gả Huy Ninh cho Quý Ly.

29) Duệ Tôn, con Minh Tôn và Lê Đơn Từ, cô Quý Ly, lấy Hiền Trinh là em họ Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.

30) Duệ Tôn lấy Thái bảo Trần Liêu làm phi.

31) Năm 1375 Duệ Tôn gả con là Trang Huy công chúa cho Nguyên Dẫn, con Cung Chính vương. Cung Chính vương và Duệ Tôn đều là con Minh Tôn, tức con chú con bác lấy nhau.

32) Thiên Huy hay Thái Dương công chúa, con Nghệ Tôn, lấy Phế Đế là con Duệ Tôn. Nghệ Tôn và Duệ Tôn cùng là con Minh Tôn, mẹ Nghệ Tôn là Minh Từ, mẹ Duệ Tôn là Đơn Từ, là hai chị em ruột, cô của Quý Ly : vừa là con chú con bác, vừa là cháu dì cháu già lấy nhau.

33) Sau khi Phế Đế chết, Thái Dương tư thông với Nguyên Uyên, con Cung Tín vương Thiên Trạch, em Nghệ Tôn : con chú con bác lấy nhau.

34) Năm 1393, Nghệ Tôn giận đem gả Thái Dương cho Nguyên Hãng là em Nguyên Uyên để làm nhục.

35) Tuyên Huy công chúa, con Duệ Tôn, lấy Quan Phục Đại vương Húc, con Nghệ Tôn, giống trường hợp Thái Dương lấy Phế Đế.

36) Quý Ly gả Trang Huy công chúa, con Tôn thất Nhân Vinh (bị Nhật Lễ giết) cho Mộng Dữ, con Nguyên Đán, cháu bốn đời của Quang Khải.

37) Thuận Tôn, con út Nghệ Tôn, lấy Thánh Ngẫu là con gái lớn của Quý Ly và Huy Ninh công chúa. Huy Ninh là em Nghệ Tôn, tức là con cô con cậu lấy nhau. Thuận Tôn lại là cháu nội của Đơn Từ, cô của Quý Ly, lấy con gái Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.

38) Hồ Hán Thương, con của Huy Ninh và Quý Ly, lấy Trần thị.

Tóm lại, nếu không phân biệt nội ngoại thì ít nhất cũng có gần 40 vụ người trong họ Trần lấy nhau còn ghi trong sử sách.

Không riêng gì Ngô Sĩ Liên, và Ngô Thì Sĩ chê trách nhà Trần, ngay cả Lê Quý Đôn, đầu óc tương đối cởi mở, cũng hạ bút : " Họ Trần lập Hoàng hậu lấy chị em con chú con bác cùng họ làm vợ. Nhờn lễ loạn luân như thế mà vẫn điềm nhiên không coi là kỳ quái...Triều Lê ta gia pháp rất đúng, giáo dục luân thường rất rõ ràng, khi chọn phi tần tất lấy trong con em các dòng họ công thần và con nhà tử tế  mà lễ trật phân biệt, tôn ti rạch ròi, không có cái tệ bất chính trong chốn buồng the của đời trước " (7).

Nhưng nếu ta tò mò lật sử ra sẽ thấy gì ?

1&2) Lê Thần Tôn, con Kính Tôn và Trịnh thị Ngọc Trinh, em Trịnh Tráng, lấy Trịnh thị Ngọc Trúc/Hành, con Trịnh Tráng, tức con cô con cậu lấy nhau. Trước đó Ngọc Trúc đã lấy chú họ vua là Cường quận công Lê Trụ, sinh được bốn con. Trụ bị bắt giam, Trịnh Tráng đem Trúc gả cho vua, thế là cháu lấy thím họ.

3) Lê Chân Tôn, con Thần Tôn, lấy Trịnh thị Phương Từ, em Ngọc Trúc.

4) 1663 Lê Huyền Tôn, con Thần Tôn, cháu ngoại Ngọc Trinh, lấy Ngọc Áng, con thứ Trịnh Tạc, cháu Trịnh Tráng, tức cháu cô cháu cậu lấy nhau (Tráng và Ngọc Trinh đều là con Trịnh Tùng).

5) Lê Dụ Tôn, con Hi Tôn, cháu Thần Tôn, chắt Ngọc Trinh, lấy Ngọc Trang là cháu 7 đời của Trịnh Tráng (Tráng sinh ra Tạc, Tạc sinh ra Căn, Căn sinh ra Vĩnh, Vĩnh sinh ra Bính, Bính sinh ra Cương, Cương sinh ra Ngọc Trang).

6) Duy Phường, con Dụ Tôn và Ngọc Trang, bị Trịnh Giang tố cáo tư thông với vợ Trịnh Cương, tức cha đẻ ra Ngọc Trang.

7) Duy Vĩ, con Hiển Tôn, cháu Thuận Tôn, chắt Dụ Tôn và Ngọc Trang, đính hôn với Tiên Dung quận chúa, con Trịnh Sâm, cháu Trịnh Doanh, Doanh và Ngọc Trang đều là con Trịnh Cương. Thế là cháu lấy cô họ.

Đấy là chưa kể trường hợp Lê Tương Dực loạn dâm với vợ lẽ của cha và những vụ chưa minh định được vì sử chép quá sơ sài như :

- Lê Thái Tổ lấy nguyên phi là Lê thị Ngọc Dao, con Thủ tướng Lê Sát. Sát người Lam Sơn, trên bảng 93 công thần được xếp hạng nhì.

- Huệ phi của Thái Tổ là Lê thị Nhật Lễ, con Thủ tướng Lê Ngân, cũng người Lam Sơn, và được xếp hạng tư trên bảng công thần.

- Lê Nhân Tôn gả em gái là Vệ Quốc Trưởng công chúa cho con Thái úy Lê Thụ, cũng có tên trên bảng công thần.

Xét rằng thời xưa những người nắm quyền cao phần nhiều đều trong hoàng tộc thì rất có thể Lê Thụ, Lê Ngân, Lê Sát, đều có họ với Thái Tổ, đặc biệt Sát và Ngân đều quê ở Lam Sơn. Mặt khác, 93 người có tên trên bảng công thần đều cùng họ Lê thì chắc một số vì có công lớn được ban quốc tính (được nhận họ của vua làm họ của mình) khó mà biết rõ sự thật, như Lê Lễ, cũng có tên trên bảng công thần, người ở Lam Sơn, được ban quốc tính, lại chính là cháu gọi Thái Tổ bằng cậu (8).

Triều Lý có vua Thần Tôn năm 1128 lấy con gái Điện Tiền Chỉ huy sứ Lý Sơn là Lệ Thiên hoàng hậu.

Có lẽ Lê Quý Đôn cũng như hai vị sử gia họ Ngô chỉ kể tội riêng nhà Trần vì theo thuyết " nữ nhân ngoại tộc " , con chú con bác kể như là họ thân lấy nhau phạm tội, còn con cô con cậu họ sơ, kể như lấy người ngoài, không có tội gì cả. Thời xưa nội ngoại phân biệt rất kỹ cho nên Phạm Đình Hổ, trong Vũ Trung Tuỳ Bút, cho rằng người nào không có con trai cho con gái ăn thừa tự cũng phạm tội loạn luân (9).

Nhưng theo con mắt đời nay, trai gái cũng là con cả, cùng chung một huyết thống thì không thể cho con chú con bác lấy nhau là có tội mà con cô con cậu lấy nhau lại vô tội được. " Nữ nhân ngoại tộc " không phải là luật tự nhiên, chẳng qua là một đạo lý do người đặt ra nhưng không phải là một đạo lý được khắp mọi nước tôn thờ. Ngược lại, loạn luân là một hiện tượng tự nhiên, ở đâu cũng có. Việt Nam ta có câu :

Cháu cậu mà lấy cháu cô,
Thóc giống đầy bồ, lúa má nhà ta.

Ở Pháp, trên đài truyền hình thỉnh thoảng vẫn thấy người ta khuyến khích con cái mạnh dạn tố cáo phụ huynh đã cưỡng hiếp con em trong nhà. Tại Bretagne, hiện có một gia đình cha con ăn ở với nhau đã có mấy mặt con. Theo Gilbert Prouteau, thời Trung Cổ, Âu Châu có những buổi lễ của phù thủy, sau khi múa hát xong thì tha hồ cha mẹ loạn dâm với con, anh với em. Người Hi Lạp và Incas thời xưa chính thức cho phép con cùng cha lấy nhau và còn khuyến khích người trong hoàng tộc lấy nhau để giữ cho huyết thống hoàng gia không bị pha trộn với những dòng máu khác (10) vì họ cho rằng những cuộc hôn phối này không có hại gì cho đời sống, người cùng chung một huyết thống và giáo dục lấy nhau dễ hợp nhau hơn, như thế chỉ có lợi chứ không có hại. Cho nên "  Nữ nhân ngoại tộc " không nhất thiết là luật chung của thiên hạ. Thuyết này do người đặt ra thì người cũng có thể đặt khác hoặc hủy bỏ, dựa vào nó kết tội nhà Trần là  " bất chính "  và cho nhà Lê là " gia pháp rất nghiêm " e không ổn, với cách suy luận ngày nay.

Để chứng minh nhà Trần có tội, Ngô Thì Sĩ viết : " nhà Trần lấy vợ người cùng họ, âm dương không phải lứa đôi nên có tai biến (11) "  chỉ vì sử chép :

    * Năm 1300 người đàn bà ở Hồng Lộ sinh con trai hai đầu.
    * Năm 1304, người đàn bà ở kinh thành sinh con gái hai đầu, bốn chân, bốn tay.
    * Năm 1350, làng Thiên Cương (Nghệ An) có người con gái hoá trai.

Theo Nho giáo thì vua là con Trời, vua hành sự không phải thì Trời ra tai để răn dậy. Đấy là một phương pháp để hạn chế uy quyền vua, không cho lộng hành, vua tuy có quyền sinh sát nhưng còn phải e dè sự kiểm soát của Trời. Ngô Thì Sĩ vì có thành kiến với nhà Trần nên chỉ vạch tội nhà Trần mà cố ý bỏ qua những tai dị xẩy ra không thiếu gì dưới thời Lê Trịnh, cũng như đời Lý.

Ngày nay tuy chúng ta không tin những tai dị xẩy ra vì Trời muốn vua phải sửa lỗi, nhưng y học công nhận người trong họ không nên lấy lẫn nhau dễ mắc bệnh. Có điều lạ là không thấy sử chép họ Trần mắc bệnh này, mặc dầu những bệnh kỳ lạ khác đều được ghi lại như :

- Lê Ngọa Triều vì hoang dâm không ngồi dậy được nên khi lâm triều phải nằm.

- Lý Huệ Tôn bị trúng gió sinh chứng cuồng dịch, khi thì xưng là Thiên tuớng giáng hạ, tay cầm giáo và mộc, trên búi tóc cắm lá cờ nhỏ, đùa giỡn múa may suốt ngày, khi thì toát mồ hôi, trong người ráo khát, uống rượu say ngủ li bì, hôm sau mới tỉnh, không làm được việc phải giao hết chính sự cho Trần Tự Khánh là anh vợ (12).

- Trần Dụ Tôn bị liệt dương.

- Vệ Quốc Trưởng công chúa bị câm.

- Lê Thần Tôn bị bệnh ung thư mà băng.

- Trịnh Giang dâm loạn, thông gian cả với vợ lẽ của bố là Đặng thị. Một lần bị sét đánh gần chết, từ đấy sợ hãi, đào hầm dưới đất trú ẩn không dám ra nữa, chính sự giao lại cho em là Trịnh Doanh (13).

Sử không ghi chép người trong họ Trần bị bệnh máu loãng có thể nào vì người xưa biết phép điểm huyệt cầm máu nên không nhận ra chứng bệnh máu loãng ?
« Last Edit: 27 Tháng Ba, 2008, 05:50:11 PM by nguoiyeunhac »

Offline nguoiyeunhac

  • Người Mới
  • *
  • Posts: 8
  • Bầu Chọn: +1/-0
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #2 on: 27 Tháng Ba, 2008, 05:25:16 PM »
III.- Cái vạ ngoại thích

Người ta thường cho rằng người họ Trần lấy lẫn nhau để bảo vệ ngôi báu không để lọt ra ngoài vì chính nhà Trần đã cướp ngôi nhà Lý một cách êm thắm qua cuộc hôn nhân dàn xếp giữa Lý Chiêu Hoàng 8 tuổi, với Trần Cảnh 9 tuổi. Theo Văn Hòe thì Thủ Độ, người chủ mưu sang đoạt cơ nghiệp nhà Lý, đã ra lệnh :  " Con gái nhà Trần phải gả cho họ Trần " (14). Tuy nhiên, mặc dầu Thủ Độ đã phòng xa nhưng nhà Trần vẫn mất vì lấy người họ khác, không phải một lần mà tới hai lần :

- Cung Túc vương Dục, con trưởng của Minh Tôn, vì bất tài không được lập làm Thái tử, say mê một người con hát đẹp hay đóng vai Tây vương mẫu, lấy làm vợ mặc dầu người này đã có mang với chồng, cũng là phường chèo, tên là Dương Khương. Sau đẻ ra Nhật Lễ được Dục nhận làm con. Các vua Hiến Tôn, Dụ Tôn và Dục đều mất, Thái hậu, mẹ Dục, lấy cớ Nhật Lễ được Dục chính thức nhận làm con thì có quyền lên ngôi. Năm 1369 Nhật Lễ lên ngôi rồi có ý muốn trở về họ Dương của cha đẻ nên bị Nghệ Tôn giết. Nhà Trần suýt mất lần thứ nhất.

- Minh Tôn lấy hai người cô của Quý Ly : Minh Từ sinh ra Nghệ Tôn, Đơn Từ sinh ra Duệ Tôn. Nghệ Tôn cướp lại ngôi trong tay Nhật Lễ ít lâu nhường ngôi cho Duệ Tôn. Duệ Tôn lấy em họ Quý Ly là Hiển Trinh sinh ra Phế Đế. Nghệ Tôn nghe Quý Ly giết Phế Đế lập con út mình là Thuận Tôn lên ngôi. Thuận Tôn lấy Thánh Ngẫu là con gái lớn của Quý Ly và Huy Ninh công chúa đẻ ra Thiếu Đế. Quý Ly ép Thuận Tôn nhường ngôi cho Thiếu Đế khi ấy mới hai tuổi, sau lại cướp ngôi của Thiếu Đế, tức cháu ngoại mình, mà lập ra nhà Hồ.

Nói rằng nhà Trần mất vì cái vạ ngoại thích cũng được, song sự thật làm gì có một dòng họ nào nắm được chính quyền mãi mãi ? Nhà Trần nếu không mất vì  " cái vạ ngoại thích  " ắt cũng mất vì một lí do khác.

Còn nói rằng người họ Trần lấy lẫn nhau để giữ ngôi báu cho họ Trần cũng chưa hẳn hoàn toàn đúng vì Thủ Độ đã tư thông với chị họ là mẹ Lý Chiêu Hoàng từ trước khi Trần Cảnh được Chiêu Hoàng nhường ngôi, khi ấy đã có ngôi báu đâu mà giữ ? Phải nói rằng họ Trần vẫn lấy lẫn nhau từ trước nhưng đặc biệt được Thủ Độ khuyến khích từ khi Trần Cảnh lên ngôi mở đầu cho nhà Trần.

Không rõ lấy tài liệu ở đâu, Ngô Thì Sĩ viết :  " Con nhà chài lưới chả biết lễ nghĩa, tập tục loạn luân như thế từ đời Kính, Hấp đã có " (15).

Tổ tiên nhà Trần lập nghiệp ở hương Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, làm nghề đánh cá trở nên giầu có. Trong An Nam Chí Lược, Lê Tắc cho biết Trần Thừa nhờ có công đánh giặc được phong chức Thái úy, em là Kiến Quốc được làm Đại tướng quân. Tuy nhiên nhà Trần vốn không phải gốc Việt mà từ đất Mân (có nơi nói là Quế Lâm) ở Trung Quốc sang từ đời Trần Kính, Kính sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, Thừa sinh ra Cảnh. Nếu nhà Trần biết rõ gốc gác của mình như thế ắt có chép gia phả và không đến nỗi không hiểu lễ nghĩa như Ngô Thì Sĩ nói. Không giữ lễ là một chuyện, không biết lễ lại là một chuyện khác.
 
IV.- Vài nét sinh hoạt của các công chús đời Trần

Ngoài những cuộc hôn nhân với người trong họ, hoặc với người ngoài vì chính sự, sử nhà Trần còn ghi chép đôi nét về những sinh hoạt khác của các công chúa :

1) Phàm người nào lấy công chúa, nếu công chúa chết hay bỏ đều không được lấy người khác, có lấy cũng phải giấu. Có lẽ đây là luật lệ chỉ áp dụng với người ngoài, vì khi Thiên Trân công chúa, con Anh Tôn, mất thì Uy Túc công Văn Bích lại lấy Huy Thánh công chúa (16).

2) Bắt đầu từ 1266 các công chúa cũng như vương hầu, cung tần được phép chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang, đắp đê ngăn nước mặn ở ven biển độ hai, ba năm sau khai thành ruộng. Nhưng từ 1397, Quý Ly chỉ cho các Đại vương va Trưởng công chúa được có ruộng không hạn định.

3) Võ học. Nhà Trần chấn chỉnh văn học nhưng cũng rất trọng võ học, xét ra có phần còn trọng võ hơn văn, như năm 1281, khi Nhân Tôn mở nhà học ở phủ Thiên Trường (Xuân Trường) lại cấm người làng Tức Mặc, quê hương vua, không được vào học văn nghệ, cũng như không cho hiệu quân Thiên Thuộc (những binh sĩ ứng tuyển ở Tức Mặc) học văn sợ khí lực kém đi (17).

Khi các vương hầu, công chúa lập trang trại thì phải luyện binh lính trừ bị thành từng đội quân bản bộ. Thưở ấy trai tráng trong nước theo luật " toàn quốc vi binh " khắp nước từ trên xuống dưới đều tinh thông võ nghệ nên mới đẩy lui được cả quân Chiêm lẫn quân Nguyên mấy lần định xâm lăng. Do đó ta mới có câu khen " đánh giặc đời Trần ... "

Do truyền thống tinh thần thượng võ ấy, các công chúa cũng luyện tập võ nghệ đến trình độ có thể điều binh khiển tướng như khi quân Minh sang, công chúa Thiên Huy cùng với Thị Trung họ Hồ là Trần Nguyên Chi đem dân tránh loạn ra Đồ Sơn, trong khi công chúa Thiên Gia và Trung sư lệnh Trần Sư Hiền ngược sông Cái, đầu hàng quân Minh (18).

Đặc biệt năm 1369, khi Nhật Lễ lên ngôi dự tính trở về họ Dương của cha đẻ, nhà Trần suýt mất. Khi ấy người họ Trần tuy lo sợ nhưng không thấy ai nhúc nhích. Cung Định vương vốn đã không có chí làm vua, lại có con gả cho Nhật Lệ, càng e dè. Công chúa Thiên Ninh phải đứng ra khuyến khích : " Thiên hạ này là của cha ông ta lẽ nào bỏ cho người khác ? Ông nên đi đi, tôi sẽ đem gia nô dẹp yên nó cho " . Cung Định vương nghe theo, cùng với Tuyên vương Chương Túc hầu Nguyên Đán hẹn với Thiên Ninh ở Đại La giang, thuộc Thanh Hoá, để khởi binh, giết được Nhật Lễ năm 1370. Cung Định vương lên ngôi năm 1371 và phong cho Thiên Ninh làm Lạng quốc Thái Trưởng công chúa, đổi tên là Quốc Hinh (19). Cung Định vương tức là vua Nghệ Tôn.

Ngày nay nhắc đến Thiên Ninh công chúa người ta chỉ nhớ tới tội loạn dâm với em, mà cũng không xét kỹ xem có thực là " tội " hay không ? " Tội " là khi công chúa ưng thuận vì bị kích thích, ham muốn một cuộc phối hợp với em ruột. Nhưng nếu Thiên Ninh ưng chịu chỉ vì thầy thuốc Trâu Canh phán như thế mới chữa cho Dụ Tôn khỏi chứng liệt dương thì đấy lại là chuyện khác. Trâu Canh đã từng cứu Dụ Tôn thoát chết một lần, lời nói ắt có giá trị. Nếu Thiên Ninh hi sinh để cứu Dụ Tôn thiết tưởng đấy là " công " chứ không còn là " tội " nữa, hay ít ra cũng " tội " nhỏ mà " công " lớn. Thêm vào đấy còn cái công đánh dẹp Nhật Lễ, giành lại ngội báu cho nhà Trần. Chỉ tiếc rằng Thiên Ninh lại dem cơ nghiệp nhà Trần giao vào tay Nghệ Tôn, trước đã không có chí làm vua, sau lại một mực tin dùng Quý Ly, nên nhà Trần lại mất về tay nhà Hồ.

Tuy sử không chép nhiều, nhưng ta cũng thấy rằng các công chúa đời Trần không phải chỉ thụ động tuân theo thượng lệnh, hoặc nằm trong lòng địch dò la tin tức như công chúa Ngoạn Thiềm, hay lấy mỹ sắc xoa dịu đối phương đê đem lại hoà bình cho đất nước như Huyền Trân hay An Tư, hoặc lấy người cùng họ để giữ ngôi báu nhà Trần khỏi lọt vào tay họ khác, mà còn có những hoạt động như lập trang trại, luyện tập quân sĩ, điều binh khiển tướng, ít nhất cũng tích cực đóng góp vào công việc mở mang đất nước và gìn giữ ngai vàng cho nhà Trần.

Offline nguoiyeunhac

  • Người Mới
  • *
  • Posts: 8
  • Bầu Chọn: +1/-0
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #3 on: 27 Tháng Ba, 2008, 05:56:44 PM »
 Câu chuyện Hòang đế Trần Dụ Tông mắc bệnh liệt dương là một câu chuyện có một không hai trong lịch sử nước ta , một chuyện khó tin nhưng lại có thât

Bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục trang 624 có ghi rằng : " Ngày mồng một tháng 11 năm Tân Mão (1351 ).... Nhà vua đã lớn mắc bệnh liệt dương , Canh ( Ngự Y ) dâng bài thuốc tri bệnh cho vua, liền khỏi, Canh càng được vua cưng chiều đặt biệt .."

Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) mô tả câu chuyện này còn chi tiết hơn nữa trang 126 có chép:

" Trâu Canh là con của Trâu Tôn người phương Bắc, khoảng năm Nguyên Phong (1251-1258) làm thầy thuốc, đi theo quân Nguyên. Khi quân Nguyên thua, Trâu Tôn bị bắt. Tôn ở lại chữa bệnh cho các vương hầu thời đó phần nhiều thấy công hiệu. Người trong nước nhiều lần cho Tôn ruộng và gia nô thành ra giàu có. Trâu Canh là con nối nghiệp cha nhưng không có hạnh kiểm..."

CÂU CHUYỆN LIỆT DƯƠNG CỦA HOÀNG ĐẾ:

Vào đêm trung thu năm Khai Hựu thứ 11, các vương phi, cung nữ triều Trần dạo thuyền ngắm trăng trên Hồ Tây, hoàng tử thứ mười của vua Minh Tông, tên là Hạo, mới lên bốn tuổi cũng được đi theo. Không hiểu sơ sẩy thế nào mà hoàng tử này rơi xuống nước. Mọi người hoảng hốt nhảy xuống mò tìm, mãi hồi lâu mới mò được xác hoàng tử kẹt ở lỗ cống đơm cá. Khi vớt lên thì Hoàng Tử đã chết. Thượng Hoàng sai thầy thuốc Trâu Canh cứu chửa. Trâu Canh tâu rằng: có thể cứu được nhưng phải dùng kim châm vào các huyệt ,Hoàng tử có thể sống nhưng chỉ sợ sau này sẽ bị liệt dương ".

Trâu Canh đã cứu được Hoàng tử. Phép mầu cải tử hoàng sinh của vị thần y này không những làm hoàng gia mừng khôn xiết, mà dân chúng ở kinh thành cũng đồn đãi xa gần, ai cũng phục Trâu Canh là một bậc thần y, tài ba siêu việt. Ông ta sau được phong maĩ lên Quan Phục Hầu Tuyên Huy Viện Đại sứ kiêm Thái y sư.

Thời gian trôi qua, không ai còn nhớ câu nói cuối cùng của Trâu Canh khi cứu hoàng tử Hạo.

Mùa Hạ,tháng 6, ngày 11 năm Tân Tî (1341) Hiến Tông Hoàng Đế băng hà. Thượng Hoàng Minh Tông đưa hoàng tử Hạo lên ngôi vua. hiệu là Dụ Tông Hoàng Đế, đổi niên hiệu là Thiệu Phong năm thứ nhất.Vua lúc ấy mới lên 6 tuổi .

Năm lên 14 tuổi, Thượng Hoàng cưới vợ cho Dụ Tông. Hoàng hậu là công chúa Y Từ, con gái thứ tư của Bình Chương Huệ Túc Vương. Đến lúc đó thì lời nói năm xưa của thần y Trâu Canh trở nên ứng nghiệm.

Dụ Tông nhận ra mình không có khả năng làm chồng. ông ta đã bi bệnh liệt dương. Lấy ai nối dõi, bảo vệ ngai vàng họ Trần bây giờ?

Bấy giờ Trâu Canh thấy vua bị Liệt Dương dâng phương thuốc nói rằng : "phải giết một bé trai, lấy mật hoà với dương khởi thạch mà uống. Ngoài ra phải thông dâm với chị hay em ruột mình thì mới hiệu nghiệm..."( ĐVSKTT trang 132 )

Lịch sử không nói lời chi tiết chỉ ghi rằng "Vua làm theo, thông dâm với chị ruột của mình là Thiên Ninh Công Chúa quả nhiên có công hiệu".

LIỆT DƯƠNG HAY CÒN GỌI ED (Erectile Dysfunction ) LÀ GÌ?

Liệt dương là một thuật ngữ mô tả sự suy nhược tình dục (sexual deficiency) .Trong y khoa hiện đại, bệnh liệt dương là một vấn đề lớn

Bệnh liệt dương còn gọi là bất lực, yếu sinh lý hoặc rối loạn cương dương vật (Erectile dysfunction) ngày nay người ta gọi chung là bệnh ED.

Bệnh liệt dương đã không được nói đến trong suốt nhiều thế kỷ, từ phương Tây cho đến phương Đông bởi người ta cho rằng tình dục là chuyện không đứng đắn, mặc dù nó luôn luôn là một vấn đề sát sườn quan trọng của đời sống. Nó là vấn đề luôn luôn được cá nhân quan tâm đến từng ngày, nó là cái thước đo của sức khỏe, nó được nghĩ đến nhưng không được nói ra bằng lời hoặc trao đổi với người khác kể cả người hôn phối. Đó một bệnh "khó nói".

Tháng 12 năm 1992 The National Institutes of Health Consensus Development Conference on Importance của Hoa Kỳ đã định nghĩa

Rối loạn cương dương vật là một tình trạng không có khả năng cương cứng, hoặc không duy trì được tình trạng cương cứng để thực hiện việc giao hợp cho đến lúc kết thúc do đó không làm thỏa mãn được bạn tình.

Có hai nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân thực thể:

    * Bệnh về mạch máu. Tiểu đường Tác dụng phụ của thuốc như thuốc cao huyết áp Nghiện thuốc lá, nghiện rượu, ma túy. Các bệnh về dây thần kinh như bệnh múa vờn, sừng hóa . Do phẫu thuật: như giải phẩu tuyến tiền liệt các phẩu thuật này có thể dẫn đến sự phá hủy hoặc tổn thương dây thần kinh cũng như các mạch máu

    * Tổn thương tủy sống

    * Và một vài nguyên nhân khác như: mất cân bằng các nội tiết tố, suy thận, thẩm phân, giảm sút nồng độ cholesterol.

Nguyên nhân tâm lý: luôn luôn là yếu tố đi kèm theo với các yếu tố thực thể, nó bao gồm sự không hài lòng, không thoải mái, thú vị về các hoạt động tình dục của mình, stress, ức chế, lo lắng buồn rầu

Liệt dương là một triệu chứng trong toàn bộ vấn đề về suy nhược tình dục. Đa số những vấn đề tâm lý của bệnh liệt dương đều thuộc về cảm xúc.

Cảm xúc là tình trạng bày tỏ tình cảm của một cá nhân trước một vấn đề có thể là: khoái cảm, loạn cảm, vô cảm... Cho nên ấn tượng đầu tiên hoặc một quan niệm mà cá nhân cho là bất di bất dịch sẽ ảnh hưởng và chi phối gần như tuyệt đối các hành vi về sau. tình dục của đàn ông là một trò chơi của sự tự tin. người ta nói sợ hãi và cường dương là hai yếu tố loại bỏ nhau.

Có hai loại liệt dương:

1. Liệt dương tuyệt đối: đó là trường hợp dương vật không cương lên được , trường hợp này hiếm xảy ra, thường là do tổn thương thực thể, hoặc do chấn thương ở cột sống hay não bộ.

2. Dương vật có cương, đôi khi cương mạnh hơn bình thường Trong giất ngủ, trong khi hôn mê nó vẫn cương bình thường, điều này chứng tỏ bộ máy dương vật vẫn tốt và hoàn hảo, nhưng khi giao hợp thì nó không tuân theo ý muốn của chủ nhân và trở nên mềm nhũn.

 

Có lẽ bảy trăm năm trước đây, Trâu Canh đã hiểu và nghĩ: liệt dương chỉ là một vấn đề tâm lý, một vấn đề thuộc về xúc cảm, một trò chơi của sự tự tin. Sự sợ hãi và ấn tượng đầu tiên là mấu chốt của vấn đề trị liệu.

Trâu Canh là một thầy thuốc giỏi trong lĩnh vực tâmlý tình dục. Và ông ta đã sử dụng sự hiểu biết về nghề nghiệp của mình trong một mưu đồ khác.

Trâu Canh ra vào cung cấm, hay dùng những câu chuyện kỳ lạ, những lời kỳ quặc để huyễn hoặc Dụ Tông nên Thượng hoàng Minh Tông rất ghét hắn.

 

THỰC CHẤT TOA THUỐC CỦA TRÂU CANH:

Tất cả chẳng qua là một đòn tâm lý ác liệt đối với Dụ Tông thông qua sự yểm trợ mạnh mẽ của ThượngHoàng và Thái Hậu cũng như Công Chúa Thiên Ninh.

Điều trị liệt dương là điều trị cảm xúc, điều trị cái nguyên nhân tâm lý đã gây ra hậu quả liệt dương như các cơ chế y khoa hiện đại đã nói trên.

Chính Trâu Canh đã gây ra cái nhân ấy muời năm trước khi ông ta nói sẽ "liệt dương về sau".Vị Hoàng Thái Tử đã bị ám ảnh từ đó. Một dấu ấn ngày càng trở nên hãi hùng đối với vị hoàng tử đáng thương kia.

Liệt dương... liệt dương... liệt dương... vang lêm suốt cả cuộc hành trình khôn lớn. Một định kiến cho rằng mình liệt dương đã được thiết lập. Và nguời duy nhất có thể phá bỏ cái định kiến ấy không ai khác hơn là Trâu Canh. Vì hơn một lần ông ta cứu sống vị vua này.Trâu Canh đã cứu sống Dụ Tông lúc bốn tuổi. Trâu Canh được triều đình xưng tụng là thần y.

Nay Trâu Canh lại nói chữa được bệnh liệt dương cho Dụ Tông. Phương pháp kỳ dị của y lại được toàn thể Hoàng gia đồng tình vun vào, ngay cả Thiên Ninh Công Chúa cũng chấp nhận. Điều này càng gây cho Dụ Tông lòng "tự tin", có thể lòng tự tin ấy đã đánh đổ các định kiến vàlàm cho Dụ Tông chiến thắng được ám ảnh đó

Tóm lại, những điều quái đản mà Trâu Canh đưa ra trong toa thuốc này chỉ là một ấn tượng khủng khiếp làm cái chìa khóa để xóa bỏ cái định kiến. Ông ta đã làm động tác của một nhà phân tâm học hiện đại với một số ma thuật vô đạo đức cho đến nỗi Thượng Hoàng Trần Minh Tông chán ghét thậm tệ nhưng không thể giết chết y được, mặc dù y đã phạm tội tày trời.

Trang 623 Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục chép tiếp

" Canh lại càng được nhà vua cưng chiều đặt biệt cho ngày đêm được hầu thuốc thang ở trong cung. Canh do đó tư thông với các cung nữ .Việc phát giác Thượng Hòang muốn khép Canh vào tội tử hình , nhưng nhà vua cho Canh là người có công nên tha tội cho..."

Một thần y nhưng không có đạo đức. Trâu Canh đã khuynh đảo được triều đại nhà Trần trong gần 30 năm Cuối đời Dụ Tông là để lại lời trối trăn cho Dương Nhật Lễ - con của một người đào hát, một người không phải dòng dõi nhà Trần lên làm vua thay mình, Quyết định đó góp phần vào việc làm suy đổ triều đại nhà Trần về sau này.

http://i.1asphost.com/bshodacduy/dutong.html

Offline Thisplus

  • Thành Viên Tích Cực
  • *****
  • Posts: 1.041
  • Bầu Chọn: +37/-95
  • Gender: Male
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #4 on: 28 Tháng Ba, 2008, 07:11:56 AM »
Box này sắp chuyển thành Box Chính Trị được rồi đấy nhỉ  ;D Hết câygạo rồi lại đến nguoiyeunhac viết những bài lịch sử hoành tá tràng quá  ;D MOD Tán Dóc nên xin thêm chân MOD Chính Trị đi thôi  ;D  ;D   ;D
-->

Offline typhoon

  • Thành Viên Tích Cực
  • *****
  • Posts: 1.854
  • Bầu Chọn: +25/-166
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #5 on: 28 Tháng Ba, 2008, 05:44:18 PM »
Cái này đơn thuần là Lịch sử thôi mà, có dính dáng gì đến chính trị đâu. Cứ tán thoải mái.
Chúng ta chỉ lưu ý tránh các vấn đề từ những năm 1930 đến nay.
-= Đời là vạn ngày sầu =-

Offline TTuuấấnn

  • Thành Viên Tích Cực
  • *****
  • Posts: 1.747
  • Bầu Chọn: +284/-120
  • Gender: Male
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #6 on: 28 Tháng Ba, 2008, 07:58:08 PM »
Cái này đơn thuần là Lịch sử thôi mà, có dính dáng gì đến chính trị đâu. Cứ tán thoải mái.
Chúng ta chỉ lưu ý tránh các vấn đề từ những năm 1930 đến nay.
Xin được bổ sung thêm ý của bác typhoon. Hạn chế những bài viết về lịch sử liên quan đến chính trị từ năm 1945 đến nay, vì quy định của diễn đàn khi quý vị tham gia đã đồng ý khi đăng ký. Nếu có những bài viết đó sẽ xoá và kô thông báo. Mong bạn bỏ chữ "loạn luân", vì đây là vấn đề của những nhà sử học, nếu để như vậy sẽ làm phai nhoà hai chữ TÁN DÓC. Kính mong có sự hợp tác chân thành của các thành viên.
Dòng sông NHẬT LỆ đã chứng kiến 1 ngày mưa tầm tã khi Huyền Trân công chúa vì sự nghiệp mở mang bờ cõi của cha ông, nên mới có dải đất hình chữ S như ngày nay. Đừng xét lại lịch sử mà phải chấp nhận nó.
Chào thân ái - Xin đừng sút vào chỗ đi đái!  ;D
Dù đời mình còn dài nhưng ngày vui chóng tàn

Offline caygao115

  • Thành Viên Tích Cực
  • *****
  • Posts: 1.373
  • Bầu Chọn: +16/-10
  • Gender: Male
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #7 on: 31 Tháng Ba, 2008, 06:06:00 PM »
Xin được bổ sung thêm ý của bác typhoon. Hạn chế những bài viết về lịch sử liên quan đến chính trị từ năm 1945 đến nay, vì quy định của diễn đàn khi quý vị tham gia đã đồng ý khi đăng ký. Nếu có những bài viết đó sẽ xoá và kô thông báo. Mong bạn bỏ chữ "loạn luân", vì đây là vấn đề của những nhà sử học, nếu để như vậy sẽ làm phai nhoà hai chữ TÁN DÓC. Kính mong có sự hợp tác chân thành của các thành viên.
Dòng sông NHẬT LỆ đã chứng kiến 1 ngày mưa tầm tã khi Huyền Trân công chúa vì sự nghiệp mở mang bờ cõi của cha ông, nên mới có dải đất hình chữ S như ngày nay. Đừng xét lại lịch sử mà phải chấp nhận nó.
Chào thân ái - Xin đừng sút vào chỗ đi đái!  ;D

loạn luân là từ chuẩn bác ah mà người chủ trương chính là trần thủ độ bác ah công hay tội thì mình chưa bàn nhưng nhất thiết phải chấp nhận lịch sử chứ
mong mọi người có cái nhìn thật sự cầu thị về chế độ cũ cũng như những con người thời ấy

Offline Thôn nữ chèo đò

  • Thành Viên
  • ***
  • Posts: 245
  • Bầu Chọn: +1/-43
  • thương anh mắt đợi mắt chờ
    • View Profile
Re: Nhà Trần và những kiểu loạn luân trong dòng họ.
« Reply #8 on: 27 Tháng Tư, 2009, 06:35:50 AM »
Ôi chuyện đọc hay quá vừa hay vừa nứng. Dùng từ noạn nuân chuẫn nuôn